Đó là phát biểu của TS. Trần Du Lịch tại hội thảo nhận định kinh tế vĩ mô 6 tháng cuối năm do Công ty Chứng khoán Rồng Việt ( VDS ) tổ chức chiều ngày 18/08. Theo TS. Trần Du Lịch, hiện tại những chỉ báo vĩ mô đã cho tín hiệu tích cực như lạm phát được khiên chế, tiền tệ không còn là nhân tố chính, dự trữ ngoại tệ lớn bảo đảm hoạt động xuất du nhập, xuất khẩu tăng 18%, có thể khắc phục được nguy cơ vỡ lẽ hệ thống ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, vẫn có những khó khăn. Nợ xấu giảm nhưng thực chất chưa giảm; hàng tồn kho có giảm nhưng do doanh nghiệp giảm công suất chứ không phải sức mua tăng; số doanh nghiệp giải thể, vỡ nợ có dừng lại nhưng khả năng phục hồi của nhiều doanh nghiệp rất khó. Kinh tế vĩ mô tuy khó khăn nhưng tính bất ổn đã được cải thiện, bối cảnh cho kinh tế có thể phục hồi là triển vọng. Về dự báo trong thời gian cuối năm, ông nói: “Kinh tế năm 2013 không thể tăng trưởng cao, chỉ ở mức hơn 5% nhưng lạm phát cũng được khiên chế ở mức 7%, tỷ giá đến cuối năm tăng thêm cao nhất cũng chỉ 2% và cả năm ở mức 3% là tối đa”. Chứng khoán và BĐS hình thành bong bóng nền kinh tế Nhìn lại nền kinh tế thời gian qua, TS. Trần Du Lịch cho rằng tuổi từ 2008-2013 là thời kỳ dài nhất về bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Ông viện dẫn, trước khi hội nhập WTO, trong vòng 15 năm từ 1991 đến 2005 kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá tốt do phát triển theo giá trị nội lực. Dù rằng vẫn có thời kỳ suy giảm từ 1997-1999 do khủng hoảng tài chính trong khu vực nhưng vượt qua khá nhanh. Tiếp đến, giai đoạn đầu sau khi nhập WTO (2006), thị trường bùng nổ mạnh mẽ nhưng nguồn vốn cốt yếu là đầu cơ ngắn hạn và tham dự cốt yếu vào thị trường chứng khoán. Nhưng giai đoạn này, thiết chế không vững bền, chính sự không bền này cũng làm xuất hiện bong bóng chứng khoán và làm cho nền kinh tế chẳng thể phát triển được, lâm vào tình trạng khủng hoảng khi nguồn vốn dịch chuyển qua thị trường bất động sản (BĐS) và tạo nên một bong bong mới. Ông phân tích, thị trường chứng khoán năm 2006 với vốn hóa lên đến 40% GDP, sau khi đạt đỉnh vào tháng 3/2007 dòng vốn từ chứng khoán chuyển qua BĐS làm thị trường BĐS biến chuyển quá mức, giá tăng gấp nhiều lần so với giá trị thực. Bởi thế, tuổi 2006-2010 nền kinh tế tăng trưởng đốn dựa vào nợ mà không dựa vào vốn chủ sở hữu. Tuổi này Chính phủ bội chi ngân sách 56% GDP, còn doanh nghiệp không ngừng gia tăng vốn vay. Việc nợ lớn hơn vốn chủ sở hữu làm doanh nghiệp lâm vào tình trạng xoành xoạch thiếu vốn. Xét trong vòng 20 năm qua, lần trước tiên kinh tế Việt Nam có sự phát triển thấp hơn cả Indonesia và Philippines. Xét về tăng trưởng tín dụng, trước năm 2006, tín dụng Việt Nam tăng từ 20-25%/năm, nhưng năm 2007, tín dụng tăng 53%. “Dù rằng tăng cao như vậy nhưng mức tăng này vẫn không đủ cung tiền để bù cho bong bóng xảy ra ở lĩnh vực bất động sản” - TS Lịch nhấn mạnh. Năm 2008-2009 tác động khủng hoảng đã làm kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào thị trường thế giới rất nhiều do độ mở nền kinh tế, tổng kim ngạch xuất du nhập so với GDP ở mức quá lớn, đã có lúc độ mở này lên đến 160%. Đến năm 2011 và 2012 kinh tế Việt Nam sa vào tình trạng bất ổn vĩ mô kéo dài, tất cả các giải pháp mà Chính phủ áp dụng từ 2008 đến 2013 chỉ là tình thế, chỉ hội tụ chữa hiện tượng (bất ổn ở đâu, đưa chính sách ở đó) chứ không chữa bản tính (gốc của nền kinh tế). Với điều kiện này, thị trường BĐS Việt Nam phát triển lệch lạc và bất ổn chính đến từ thị trường BĐS.Thị trường BĐS trong thời đoạn này đầu cơ thái quá, cung cầu biến đổi. Sản phẩm thị trường BĐS tạo ra không hiệp với sức mua thị trường (đẵn chỉ là sản phẩm cao cấp). Quơ nền kinh tế phụ thuộc vào ngân hàng thương mại Khi thị trường chứng khoán tăng một cách thái quá, các nhà băng thương nghiệp cũng tham gia vào làm thị trường càng trở nên biến động. Trong khi đó các hệ thống pháp chế đảm bảo an toàn cho thị trường chứng khoán thời đoạn này chưa bền vững dẫn đến dù phát triển mạnh nhưng TTCK không thể hiện vai trò chính là tạo vốn trực tiếp cho nền kinh tế. Với chủ trương cho phép doanh nghiệp phát hành trái khoán nhưng khó thực hành nên hầu như không có doanh nghiệp nào tham gia phát hành. Trong khi đó hết thảy trái khoán Chính phủ phát hành thì chỉ ngân hàng thương mại (NHTM) dự làm cho nguồn vốn trung và dài hạn không thể phát triển được. Chung cuộc sờ soạng nền kinh tế chỉ phụ thuộc vào ngân hàng thương nghiệp. Theo thống kê, 97% tín dụng của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào NHTM, chỉ 3% là các định chế phi tài chính. Năm 2011, Chính phủ tập trung giảm kìm giữ lạm phát như cắt giảm đầu tư công tạo cân bằng nền kinh tế nhưng hệ quả quá lớn là doanh nghiệp phá sản thua lỗ, kinh tế tăng tưởng trì trệ, niềm tin thị trường giảm. Ông kết luận, nền kinh tế Việt Nam từ 1990 đến nay phát triển dựa trên 4 cột mốc chính là vai trò doanh nghiệp quốc gia, doanh nghiệp tư nhân bùng nổ, kinh tế phát triển dựa trên nền nông nghiệp nhiều ưu thế, tỷ lệ FDI/GDP cao so với nhiều nước. Nhưng do bất ổn vĩ mô, từ 2012 xuất hiện những lĩnh vực khó khăn nghiêm trọng như doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế tư nhân. Duy Hoàng ghi Infonet |
Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013
TS. Trần Du Lịch: Lạm phát cả năm 2013 sẽ được kìm giữ ở mức 7%
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét